Tiếp nhận hàng nghìn lao động nước ngoài, Nhật Bản lại phủ nhận sự tồn tại của người nhập cư

Nhật Bản tiếp nhận hàng nghìn lao động nước ngoài thế nhưng đất nước này vẫn đang phủ nhận sự tổn tại của người nhập cư. Điều này tương tự chính sách tiếp nhận “thợ khách” của Đức trong những năm 1950.

Bản sửa đổi mới nhất về luật nhập cư mở ra 1 cánh cửa mới cho khoảng 345.000 lao động nhập cư vào Nhật Bản trong vòng 5 năm tới. Song, Thủ tướng Shinzo Abe không ít lần đã nói rằng hệ thống thị thực mới không cấu thành chính sách nhập cư.

Ông Abe nói về đạo luật sửa đổi tại cuộc họp báo ngày 10/12: “Hệ thống này là cần thiết để nhân sự người nước ngoài tài năng đóng vai trò lớn hơn ở Nhật Bản trong bối cảnh thiếu hụt lao động toàn quốc”.

Ông khẳng định: “Chúng tôi sẽ đề ra giới hạn rõ ràng về số lượng và thời gian tiếp nhận. Đây không phải là chính sách nhập cư”.

Trước sự phủ nhận của ông Abe, các chuyên gia nhận định điều này không chỉ cho thấy thái độ của chính quyền đối với vấn đề nhập cư mà còn thể hiện một thực tế mâu thuẫn. Dù phủ nhận sự tồn tại của di dân nhưng Nhật Bản đã nhận hàng trăm nghìn người nhập cư và tỷ lệ cư dân nước ngoài dài hạn dự kiến sẽ tiếp tục tăng.

Âm hưởng của Đức

Akihiro Koido, giáo sư xã hội học nghiên cứu về chính sách nhập cư tại Đại học Hitotsubashi ở Tokyo, cho biết luật này đích thị là một chính sách nhập cư bất kể sự chối bỏ của ông Abe.

Thực tập sinh người Việt được công nhân người Nhật hướng dẫn tại một nhà máy ở Funabashi, tỉnh Chiba, Nhật Bản. Ảnh: Kyodo.

Ông Koido so sánh tình trạng chính sách nhập cư hiện tại ở Nhật Bản với các “gastarbeiter” ở Đức. Ông Koido nói với Japan Times: “Khi đó, Đức phủ nhận các thợ khách đó là người nhập cư. Tuy nhiên trên thực tế, Đức đã phải thay đổi cách giải thích về người nhập cư sau khi chấp nhận nhiều người trong số họ”.

Theo vị chuyên gia này, vào những năm 1970, Đức tuyên bố sẽ chấm dứt hệ thống, nhiều người lo ngại họ sẽ không thể nhập cảnh 1 lần nữa. Điều này đã khuyến khích họ ở lại và lập gia đình, thúc đẩy sự phát triển của những người định cư dài hạn.

Trước đó, dân số nước ngoài ở Đức đã tăng từ 686.000 vào năm 1961 lên 1,8 triệu vào năm 1967, theo Viện Chính sách và Đào tạo Lao động Nhật Bản.

Sau đó, vào năm 2005, Đức đã ban hành 1 đạo luật tập trung vào cư trú dài hạn và hội nhập, giảm các loại cư trú xuống còn hai và ghi rõ người nộp đơn phải học ngôn ngữ và văn hóa Đức như một phần quan trọng của quy trình. Luật năm 2005 được coi là có ý nghĩa lớn khi tuyên bố Đức là “quốc gia của những người nhập cư”, nửa thế kỷ sau khi đưa ra chính sách “gastarbeiter”.

Những năm 1960, các công nhân Thổ Nhĩ Kỳ đến Đức để đáp ứng nhu cầu lao động giá rẻ trong nền kinh tế hậu chiến đang bùng nổ. Nhiều người trong số họ không bao giờ rời đi, tạo ra một cộng đồng thiểu số làm thay đổi vĩnh viễn nhân khẩu học của Đức. Ảnh: DPA.

Ông Koido nói rằng, Nhật Bản đang lặp lại bước đi ban đầu của Đức khi phủ nhận các thợ khách nhập cư thay vì điều chỉnh chính sách cho hiện đại, tiến bộ và hiệu quả hơn.

Ông Abe đã khăng khăng trước quốc hội rằng việc sửa đổi luật sẽ không mở ra cơ hội cho những người nhập cư định cư ở Nhật Bản vĩnh viễn.

Song, luật nhập cư sửa đổi sẽ giới thiệu 2 loại thị thực làm việc mới. Cụ thể, 1 loại có giá trị đến 5 năm và loại còn lại có thể gia hạn vô thời hạn với hợp đồng lao động hợp pháp.

Thị thực loại đầu tiên không thể mang theo gia đình của họ. Với loại thị thực thứ 2, mà chính phủ mô tả là dành cho những người có kỹ năng cao hơn, có thể mang theo thân nhân.

Chính sách không rõ ràng

Ông Abe nói năm ngoái rằng: “Chúng tôi không nghĩ đến việc áp dụng chính sách chấp nhận số lượng người nước ngoài nhất định với những người phụ thuộc của họ vô thời hạn để duy trì dân số của đất nước”.

Theo các nhà phân tích chính trị việc ông Abe liên tục phủ nhận là 1 nỗ lực nhằm xoa dịu bộ phận đảng viên bảo thủ hoài nghi về vấn đề nhập cư mặc dù lập trường đó đi ngược với cộng đồng doanh nghiệp, những người đang rất cần chính sách này.

Ông Koido cho biết chính phủ, ngay cả trước chính quyền hiện tại, đều không muốn thừa nhận Nhật Bản đang tiếp đón người nhập cư. Ông chỉ ra việc cải cách nhập cư những năm 1990 đã mở rộng thị thực cho những người tìm kiếm việc làm và giúp người nước ngoài, đặc biệt là những người gốc Nhật, đến Nhật Bản làm việc dễ dàng hơn.

Chính phủ tại thời điểm đó cũng phủ nhận chính sách cải cách là chính sách nhập cư. “Chính phủ Nhật Bản chưa từng xác định rõ ràng chính sách nhập cư, nhưng điều đó không có nghĩa là đất nước không có người nhập cư vào những năm 90”, ông Koido nói.

Ông nhận định: “Kiểu lập luận những cư trú dài hạn không phải người nhập cư rất vô lý. Mặc dù Nhật Bản không mặc nhiên trở thành quốc gia của những người nhập cư, chính sách nhập cư thực chất đã tồn tại vào khoảng thời gian đó”.

TTS Việt Nam làm việc tại một công trường ở Tokyo, Nhật Bản. Ảnh: Nikkei Asian Review.

Ông nói thêm rằng việc chính phủ không chịu thừa nhận người nhập cư đã đẩy áp lực phát triển các chính sách hội nhập sang các địa phương.

Ông Yasutomo Suzuki, thị trưởng thành phố Hamamatsu thuộc tỉnh Shizuoka, nơi có khoảng 20.000 cư dân nước ngoài sinh sống, nhấn mạnh rằng các thành phố đã chủ động tìm cách tiếp nhận người nhập cư. Ông Suzuki cho rằng cuộc tranh luận tại quốc hội Nhật Bản về việc sử dụng thuật ngữ này là xa rời thực tế.

Dữ liệu của Bộ Tư pháp Nhật Bản cho thấy 29% trong tổng số 2,56 triệu người nước ngoài cư trú tại Nhật có tư cách pháp nhân. Khoảng 749.000 người là thường trú nhân vào cuối năm 2017. Năm 1997, chỉ có khoảng 82.000 trong số khoảng 1,48 triệu người là thường trú nhân.